Tại sao bạn lại cần tiền đầu tư từ bên ngoài? Tại sao nhận được tiền đầu tư lại đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển startup của bạn?

Funding

Trong bài viết này, tôi sẽ đưa ra hai lý do chính để trả lời cho hai câu hỏi trên.

Thứ nhất, startup của bạn cần tiền để có thể thúc đẩy tăng trưởng. Trong định nghĩa của Paul Graham[1] (2012) về startup, “Một startup là một công ty được thiết kế để tăng trưởng nhanh chóng. Việc mới thành lập không giúp cho một công ty được định nghĩa là startup.” Từ đó có thể thấy, trong DNA của startup luôn bao gồm tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, muốn biến cái “tiềm năng” đó thành thực tế, các nhà sáng lập phải tìm ra được chiến lược phù hợp, theo sau đó lựa chọn các nguồn lực để phục vụ cho các mục tiêu đề ra. Điển hình, khi một startup cảm thấy thời cơ đến, các nhà sáng lập sẽ phải đưa ra quyết định mở rộng quy mô. Thời cơ ở đây không nhất thiết phải là: sản phẩm đủ tốt, khách hàng đủ nhiều, …, nó có thể đến từ việc phát hiện một đối thủ cạnh tranh trực tiếp mới xuất hiện, hay đột ngột nhận được một nguồn vốn đầu tư lớn.

Ngay từ những buổi đầu thành lập startup, hẳn nhà sáng lập nào cũng “mơ” đến ngày dự án của mình lớn mạnh và được biết đến rộng rãi. Để đến được cái đích đó, tăng trưởng là giai đoạn then chốt, dù đó là tăng trưởng dần dần hay đột biến. Theo quy luật tự nhiên, vinh quang luôn tỉ lệ thuận với nguồn lực bỏ ra. Nói như vậy để thấy, một startup muốn tiến vào giai đoạn tăng trưởng thường không thể chỉ trông mong vào “vốn tự có” của mình. Họ cần phải sử dụng “đòn bẩy”, phải thuê thêm nhân sự, phải thúc đẩy các hoạt động marketing, quảng bá, … Nói chung, tiền. Tiền là nguồn lực mạnh nhất, bao quát nhất. Đó là lí do vì sao các cụm từ “startup”, “gọi vốn thành công”, “nhiều triệu đô la” thường luôn đi kèm với nhau.

Thứ hai, việc được nhận một khoản đầu tư sẽ tạo ra một hiệu ứng tích cực lên hình ảnh của startup. Đối với các nhà đầu tư, có một dạng “tâm lý bầy đàn” trong hành vi của họ. Khi viết về chủ đề này, Paul Graham (2013) từng mở đầu cho bài luận của mình: “Điều quan trọng nhất ảnh hưởng đến hình ảnh của startup trong mắt một nhà đầu tư là hình ảnh của startup trong mắt các nhà đầu tư khác.” Khi một startup được quan tâm bởi nhiều nhà đầu tư, những người khác chắc chắn sẽ thắc mắc (một số tự khẳng định) rằng phải có điều gì đó đặc biệt. Hơn thế nữa, khi các nhà đầu tư khác cũng quan tâm và đầu tư vào, điều đó có nghĩa là startup đó đang trở nên thực sự có giá trị. Có thêm tiền thì khả năng thất bại sẽ giảm đi. Mặt khác, giá trị của của startup đó vừa mới được tăng lên đúng bằng số tiền đầu tư, khi tiền được chuyển vào tài khoản ngân hàng của công ty (Paul Graham, 2013).

Đối với công chúng nói chung, gọi được vốn từ các Quỹ Đầu tư mạo hiểm (với số tiền không dưới 500.000$) tương đương với việc được đóng dấu “thành công”. Báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, và cách mà các đối tác bên ngoài nhìn vào doanh nghiệp của bạn sẽ trở nên khác hẳn. Trên thực tế, việc nhận được sự chú ý không phải lúc nào cũng tốt, tuy nhiên nếu biết cách tận dụng, nó sẽ lại là một bàn đạp rất tốt để thực hiện mục tiêu tăng trưởng của startup.

Thời điểm nhận tiền đầu tư thích hợp?

Câu trả lời mà tôi cho là phản ánh đúng nhất tinh thần của việc gọi vốn, đó là: “ (1) Khi nào bạn thực sự cần khoản tiền đó, và (2) khi khoản tiền đó chắc chắn sẽ giúp cho startup của bạn tăng trưởng.” Nếu không đáp ứng được một trong hai điều kiện ở trên, thì không những việc gọi vốn trở nên khó khăn hơn, khoản tiền nhận về và công sức trước đó cũng trở nên lãng phí.

Cứ cho rằng kể cả vậy, bạn vẫn quyết định kêu gọi đầu tư. Nếu may mắn, bạn sẽ nhận được một số lời đề nghị rót vốn, còn không thì phải tự mình đến tìm các nhà đầu tư hay quỹ đầu tư mạo hiểm. Trong cả hai trường hợp, bạn đều phải thuyết phục họ về mục đích sử dụng tiền của mình. Bạn có tin là mình có thể làm được điều đó khi yếu tố (1) và (2) đều chưa được đáp ứng?

Bỏ qua luôn cả yếu tố trung thực hay vấn đề đạo đức trong làm ăn, bạn thuyết phục được nhà đầu tư. Vậy bạn sẽ làm gì với số vốn ấy? Nghĩ ra việc để tiêu không khó nhưng cũng không phải là dễ, khi mà ngay từ ban đầu bạn không biết rằng số tiền đó chẳng giúp gì mấy cho việc tăng trưởng đối với startup của bạn. Hãy luôn nhớ rằng bạn phải chấp nhận những điều khoản hay bất kì chi phí gì để có được nguồn vốn đó.

Một trong những thời điểm nữa không nên tiến hành gọi vốn, đó là khi startup của bạn không có khả năng thuyết phục được các nhà đầu tư. Hành động này sẽ tốn mất một khoảng thời gian không hề nhỏ, đồng thời tạo ra những ấn tượng không tốt về hình ảnh của chính startup cũng như các nhà sáng lập.

Vậy, về cụ thể, khi nào thì nên kêu gọi đầu tư? Một doanh nghiệp thông thường sẽ cần kêu gọi đầu tư nhất khi họ đang cần tiền để đầu tư cải tiến công nghệ, hay sửa chữa, mua mới thiết bị. Lí do là bởi các nhu cầu này thường đi kèm với một khoản chi phí trực tiếp rất lớn (rõ ràng là không có tổ chức hoạt động kinh doanh nào lại dự trữ đủ tiền nhàn rỗi). Mặt khác, những khoản đầu tư này luôn được cân nhắc kĩ càng, và thường đi kèm với những lợi ích to lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp đó.

Đối với startup, việc gọi vốn được xác định theo một cách đặc trưng hơn. Trong đó, các startup thông thường gọi vốn theo ba giai đoạn. Nguồn vốn trong giai đoạn thứ nhất giúp cho các startup xây dựng sản phẩm và tiếp cận với khách hàng, thường vào khoảng 10.000-50.000$. Trong giai đoạn thứ hai, là khoảng lớn hơn 1.000.000$ nhằm mục đích xây dựng công ty. Khi thành công của startup dần trở nên rõ ràng, giai đoạn thứ ba có thể bao gồm nhiều vòng gọi vốn để startup thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của mình.

Mặt trái của việc nhận tiền đầu tư

Phần cuối cùng, tôi muốn chia sẻ lời khuyên của Paul Graham đối với các nhà sáng lập doanh nghiệp: “Hãy thiết lập trạng thái tắt/bật đối với công việc gọi vốn.” Các nhà sáng lập thường không để ý đến chi phí cơ hội cho việc gọi vốn của mình. Chi phí này bao gồm thời gian, công sức và quan trọng nhất, sự tập trung của nhà sáng lập. Các startup chỉ có thể cụ thể hoá tiềm năng tăng trưởng của nó nếu như những người sáng lập tập trung toàn tâm vào công việc chính của mình. Điều này đặc biệt bị đe doạ là khi làm việc với các nhà đầu tư mạo hiểm. Vì một trong những hành vi đặc trưng của họ là “chờ đợi”.

Cũng trong bài luận về “Tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư” (Paul Graham, 2013), nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng này cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: “Ngay cả những nhà đầu tư giỏi nhất cũng gặp rất nhiều khó khăn để đánh giá (định giá) một startup”. Cái gì càng đem lại lợi nhuận lớn, thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro và khó để nhận biết. Đây là lí do vì sao các nhà đầu tư thường tìm mọi cách để trì hoãn việc đưa ra một đề nghị chính thức đối với bạn. Thời gian quan sát một startup càng nhiều thì họ càng có nhiều thông tin để phục vụ cho việc định giá (tốt nhất là trước khi startup đó trở thành một đối tượng hấp dẫn với các nhà đầu tư khác).

Các nhà đầu tư thì như thế, vậy các nhà sáng lập thì thế nào? Tôi tin rằng hiểu được động lực hành vi của đối tác đầu tư sẽ giúp cho các nhà sáng lập tiến lên một nấc thang mới trong việc chủ động đối với vấn đề này. Hãy xác định rõ ràng khi nào bạn bật công tắc “chế độ gọi vốn” và khi nào tắt nó. Và khi tắt, hãy nhã nhặn từ chối những lời mời gọi đầu tư từ bên ngoài, trừ khi bạn chắc chắn người đầu tư cho bạn có thể chấp nhận ngay một bản điều khoản mà bên bạn soạn ra, đồng thời bạn cũng không phải quá bận tâm hay dành nhiều thời gian cho nó. Nếu không phải vậy, bạn cần phải đề phòng với cả những “lời mời gặp mặt tán gẫu cho vui”. Chẳng có mấy nhà đầu tư mạo hiểm bỏ thời gian gặp mặt bạn mà chỉ để “cho vui”. Trong trường hợp không thể từ chối, hãy chắc chắn rằng bạn giữ được một thái độ vừa phải, và không để ảnh hưởng bởi những lời mời gọi theo sau đó.

Bên cạnh việc “làm mất tập trung” mà tôi đánh giá là rất quan trọng và ít được để ý đối với các nhà sáng lập, bạn cũng nên cân nhắc một vài các yếu tố như: quyền sở hữu bị pha loãng, nhà đầu tư tham gia quá nhiều vào công việc của bạn, … Đây là những vấn đề cơ bản trong mối quan hệ hợp tác giữa các startup và nhà đầu tư, được pháp lý hoá thông qua Bản điều khoản. Hành động cân nhắc này, theo tôi, nên được tiến hành kĩ lưỡng và thông qua trao đổi với những luật sư hay chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực. Tuy nhiên, một lần nữa nhớ rằng, hãy bật “chế độ gọi vốn” trước khi làm những việc đó.

Tham khảo:

http://www.paulgraham.com/fr.html: How To Raise Money.

http://www.paulgraham.com/herd.html: Investor Herd Dynamics.

http://www.business2community.com/strategy/need-look-investment-growing-business-0840292#KRI2ejmiO5VeUmq6.97: When Do You Need to Look for Investment in a Growing Business?. Bài này còn đưa ra một khái niệm khá thú vị liên quan đến đầu tư để cải thiện hiệu suất công việc.

[1] Paul Graham là nhà đồng sáng lập của Y Combinator—một trong những vườm ươm startup nổi tiếng trên thế giới

Advertisements